Độ phức tạp chu kỳ – Cyclomatic complexity là số vòng lặp cần thiết và không phải ngẫu nhiên số trường hợp kiểm thử mà chúng ta cần để kiểm thử tập hợp các đường dẫn cơ sở. Độ phức tạp không phụ thuộc vào kích thước của module mà phụ thuộc vào số lượng quyết định có trong đó.
Test Automation
White-box Testing: Linear Code Sequence and Jump – LCSAJ (phần 20)
Linear Code Sequence and Jump – LCSAJ là các khối code nhỏ phù hợp với một cấu hình cụ thể. Về mặt hình thức, ta coi rằng các module phần mềm được tạo thành từ các chuỗi code tuyến tính được nhảy tới, thực thi và sau đó nhảy từ đó.
White-box Testing: Multiple Condition Coverage (Phần 19)
Bao phủ nhiều điều kiện – Multiple Condition Coverage là một phương pháp trong kiểm thử phần mềm dùng để đảm bảo rằng tất cả các khả năng kết hợp của các điều kiện trong source code đã được kiểm tra.
White-box Testing: Modified Condition/Decision Coverage (MC/DC) (Phần 18)
Bao phủ quyết định/điều kiện – Condition/Decision Coverage là sự kết hợp giữa bao phủ quyết định và bao phủ điều kiện để giải quyết nhược điểm của bao phủ chỉ có điều kiện đã chỉ ra ở bài viết trước.
White-box Testing: Condition Testing (phần 17)
Kiểm thử điều kiện – Condition testing (còn gọi là condition coverage) là một phương pháp kiểm thử phần mềm nhằm đảm bảo rằng tất cả các điều kiện logic trong source code đã được kiểm tra và đánh giá ít nhất một lần trong quá trình kiểm thử.
White-box Testing: Loop Testing (phần 16)
Kiểm thử vòng lặp – Loop testing (hay Loop coverage) là một phương pháp trong kiểm thử phần mềm để đảm bảo rằng tất cả các loại vòng lặp trong source code đã được thực thi một số lần tương ứng.
White-box Testing: Decision Testing (phần 15)
Kiểm thử quyết định – Decision Testing (hay decision coverage hoặc branch coverage) là một phương pháp trong kiểm thử phần mềm để đảm bảo rằng tất cả các nhánh của source code được thực hiện ít nhất một lần trong quá trình kiểm thử.
White-box Testing: Statement Testing (phần 14)
Bao phủ câu lệnh – Statement coverage (Instruction hoặc Code Coverage) là phương pháp kiểm thử phần mềm đo lường mức độ mà các dòng code (hay câu lệnh) trong chương trình đã được thực thi trong quá trình kiểm thử. Để đạt được phạm vi bao phủ của câu lệnh, chúng ta chọn dữ liệu kiểm thử buộc luồng thực thi phải đi qua từng dòng code mà hệ thống chứa.
Tìm Kiếm WebElement Thông Qua CSS Selector Trong Selenium
Trong Selenium WebDriver, CSS selectors có thể được sử dụng để định vị các phần tử web bằng phương pháp By.cssSelector(). Phương thức này chấp nhận một chuỗi CSS selectors làm đối số của nó, xác định tiêu chí lựa chọn cho phần tử được định vị.
Các Loại Bộ Định Vị Locator Trong Selenium WebDriver
Trong Selenium WebDriver, locators – bộ định vị (hay bộ tìm kiếm) được dùng để xác định và định vị Web element – phần tử trên trang web. Phần tử Web có thể là link, button, dropdown box, text box, checkbox, v.v..
Người dùng có thể xác định các phần tử web bằng cách kiểm tra mã nguồn HTML của trang web thông qua sử dụng “Inspect Tools” của trình duyệt. Còn trong kiểm thử tự động, việc xác định phần tử web sẽ thông qua các bộ chọn – selectors. Chúng giúp Selenium WebDriver tương tác với các phần tử web và mô phỏng hành động của người dùng.